Bài toán khó
Theo ước tính của Hiệp
hội Vàng thế giới, số lượng vàng vật chất nằm trong dân khoảng 400-500
tấn. Nếu theo giá vàng tại thời điểm này trên thị trường, thì lượng vàng
nằm trong dân có giá trị giao động từ 17-21 tỷ USD tương đương 16% GDP.
Theo tính toán, chỉ cần
huy động được một nửa số vàng trong dân, thì ít nhất cũng có gần 10 tỷ
USD đưa vào nền kinh tế, nguồn ngoại tệ này sẽ làm giảm áp lực vay nợ từ
các tổ chức tài chính quốc tế hoặc tăng tỷ trọng vàng trong tổng dự trữ
ngoại hối. Cùng đó sẽ giúp NHNN có nguồn lực để chủ động và sẵn sàng
điều tiết thị trường.
Trao đổi với PV, TS Lê
Xuân Nghĩa, thành viên ban cố vấn của Chính phủ cho rằng, sau một thời
gian dài can thiệp thị trường, giờ cũng là lúc Ngân hàng nhà nước (NHNN)
nên rút lại sự can thiệp. NHNN chỉ làm nhiệm vụ giám sát về khối lượng
vàng nhập khẩu và giám sát cả giá cả nhập khẩu nếu thấy cần thiết. Cùng
đó là tập trung thực hiện các biện pháp để huy động nguồn lực vàng trong
dân như mục tiêu đề ra trước đây của NHNN.
“Thời gian rồi NHNN
đứng ra độc quyền nhập khẩu vàng là việc bất đắc dĩ nhằm khôi phục lại
dự trữ ngoại tệ và nhằm tạo điều kiện để “đuổi” vàng ra khỏi hệ thống
ngân hàng. Đến giờ sứ mạng đó đã hoàn thành”, ông Nghĩa nói.
Nguyên Thống đốc NHNN,
TS Cao Sỹ Kiêm cho rằng, nguyên nhân chính dẫn đến việc 400 tấn vàng
đang ngủ yên trong dân là do chính sách huy động còn chưa thuyết phục.
Vấn đề là người dân khi giữ vàng, mua vàng, bán vàng đều có một yêu cầu
là phải bảo toàn được vốn của số vàng ấy. Chính vì thế, nếu Nhà nước huy
động, sử dụng phải đảm bảo làm sao cho họ vừa có lời mà lại an toàn.
Khi người dân có nhu cầu, muốn rút vàng ra thì Nhà nước cần trả cho họ
bằng vàng.
Phải theo quy luật thị trường
Theo đại diện một doanh
nghiệp tham gia kinh doanh vàng, để huy động được số vàng đang cất trữ
trong dân để phục vụ cho nhu cầu vốn của nền kinh tế, cần phải tuân theo
những quy tắc cơ bản nhất. Chẳng hạn: thị trường vàng phải được lưu
thông một cách bình thường. Người dân có nhu cầu bán vàng để lấy tiền
chi tiêu hoặc đầu tư, kinh doanh họ phải thực hiện được một cách dễ
dàng.
Còn nếu không cho phép
vàng thực hiện theo bản chất, chức năng vốn có của nó, sẽ càng làm cho
quá trình kiểm soát của Nhà nước đối với loại tiền tệ đặc biệt này trở
nên phức tạp và sẽ không tận dụng được những nguồn lực to lớn trong toàn
xã hội.
Để huy động được vàng,
NHNN có thể đứng ra phát hành chứng chỉ vàng dài hạn. Chứng chỉ vàng này
có các loại mệnh giá như: 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ; 1 lượng, 2 lượng, 5
lượng, 10 lượng...
“Đặc điểm của vàng huy
động thông qua phát hành chứng chỉ là người gửi vàng không được phép rút
vàng trước hạn, thay vì hình thức tiết kiệm như trước đây. Do vậy, vốn
vàng có thể được sử dụng làm một nguồn lực dài hạn cho đầu tư phát
triển. Khi đó, về vĩ mô, nền kinh tế sẽ đuợc lợi vì nguồn vàng trong dân
tập trung về ngân hàng, góp phần tăng dự trữ quốc gia và tiết kiệm được
USD, vì không cần nhập khẩu hàng mấy chục tấn vàng vật chất mỗi năm”,
ông Long đề xuất.
Trả lời báo chí mới
đây, một đại diện NHNN cho biết, NHNN đang tính tới việc Nhà nước sẽ
đứng ra huy động vàng thông qua các tổ chức tín dụng, hay nói cách khác,
các tổ chức tín dụng sẽ làm đại lý cho NH Nhà nước trong việc huy động
vàng.
Với hình thức này, Nhà
nước không can thiệp trực tiếp vào thị trường mà thông qua các tổ chức
trung gian. Mặt khác, Nhà nước sẽ dùng nhiều công cụ khác nhau như kinh
doanh vàng tài khoản trên thị trường quốc tế để bảo hiểm rủi ro biến
động của giá vàng thế giới. Khi đó, có thể chuyển số vàng này thành
ngoại tệ góp phần phát triển kinh tế…
Theo Phạm Tuyên
Tiền PhongKết quả nghiên cứu đề tài cấp bộ được thực hiện trên 451 hộ gia đình và 83 chuyên gia, do PGS - TS. Hoàng Trần Hậu, Trường Đại học Tài chính công bố tại Tọa đàm “Nhìn lại điều hành chính sách của Ngân hàng Nhà nước 2011-2013” cho thấy, tâm lý cất trữ vàng của người dân Việt, bên cạnh mục tiêu tìm lợi nhuận còn vì lo sợ đồng tiền mất giá.
Về nguyên nhân ảnh hưởng đến việc trữ vàng trong dân, 48,46% số người được khảo sát cho rằng muốn tìm kiếm lợi nhuận từ việc vàng tăng giá và lo sợ tiền mất giá trong tương lai; 10,54% cho biết tâm lý nắm giữ vàng là thói quen trong dân cư. Còn lại là nguyên nhân lo ngại thay đổi trong chính sách quản lý chung cũng như các quy định mới từ Ngân hàng Nhà nước.
Cùng với đó, kết quả khảo sát cho thấy đa số người dân muốn giữ vàng miếng (vàng vật chất hay còn gọi là vàng tiền tệ), 42,36% chọn vàng trang sức. Hầu hết các hộ gia đình đều chọn hình thức cất giữ vàng tại nhà riêng (66,95%), chỉ 25,92% cho biết gửi ngân hàng giữ hộ và 3,6% muốn gửi kho bạc.
Về nguyên nhân quyết định bán vàng ra thị trường, 43,39% cho biết họ bán vàng khi cần tiền mặt để chi tiêu trong khi 32,49% bán vàng khi kiếm được lợi nhuận từ chênh lệch giá.
Như vậy, với tâm lý nắm giữ vàng của người dân hiện nay, theo đánh giá của PGS - TS. Hoàng Trần Hậu: Để xóa bỏ xu hướng giữ vàng trong dân, Ngân hàng Nhà nước cần thực hiện tốt chính sách quản lý kinh tế vĩ mô, làm sao xóa bỏ được tình trạng VNĐ mất giá và sự biến động trong giá vàng trên thị trường trong nước. Từ đó xóa bỏ dần xu hướng đầu cơ trong dân mà cụ thể là tư tưởng tìm kiếm chênh lệch trong giá vàng.
Ngoài ra, Ngân hàng Nhà nước cần có cơ chế thu mua vàng của người dân qua hệ thống các tổ chức tín dụng hoặc doanh nghiệp kinh doanh vàng của nhà nước để đáp ứng nhu cầu mua - bán vàng của người dân; đồng thời phát hành chứng chỉ vàng, trái phiếu với lãi suất thấp để huy động.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét